Tổ chức các Kỹ sư cơ khí của Anh báo cáo về Chương trình năng lượng từ Chất thải đã đưa ra hàng loạt biện pháp và các công nghệ tiên tiến, mà nếu áp dụng trên toàn nước Anh thì có thể giúp giảm 80% phát thải CO2 vào năm 2005 và tạo ra 1/3 -sản lượng điện từ các nguồn tái tạo vào năm 2020.
Trước đây, Anh rất ủng hộ việc đưa chất thải đến bãi chôn lấp, nhưng trong thập kỷ tới, việc làm này phải giảm đáng kể. Báo cáo nhấn mạnh mục tiêu trên không thể đạt được nếu chỉ thực hiện tái chế và lại có quá ít nhà máy tái chế. Một khối lượng lớn các sản phẩm có thể tái chế như giấy và nhựa không được chuyển hóa thành năng lượng. Vấn đề nan giải này đang được tính đến trong các mục tiêu của địa phương của nước Anh.
Nhà máy chuyển đổi năng lượng từ chất thải (EFW Plant) hoạt động trên cơ sở sử dụng chất thải và chuyển hóa chúng thành dạng năng lượng với các dạng đầu ra chính như: điện, nhiên liệu để tạo nhiệt và nhiên liệu cho giao thông giống như cách sử dụng nhiên liệu than, dầu và khí trong các nhà máy điện đốt bằng nhiên liệu hóa thách.
Phân hủy bùn, chất thải sinh họat, chất thải từ thương mại và chất thải xây dựng (hiện nay chiếm 36% lượng chất thải sinh họat) có thể được sử dụng trong các quy trình do chúng là vật liệu có thể đốt cháy hoặc phân hủy sinh học. Tổ chức các Kỹ sư cơ khí của Anh lo ngại rằng, các nhà máy chuyển đổi năng lượng từ chất thải đã không được xem là nhà máy xử lý chất thải, mà chính xác hơn đó chính là nhà máy điện, thậm chí là một nhà máy nhiệt điện kết hợp. Cụ thể, một nhà máy EFW “xử lý” chất thải hoạt động giống như nhà máy điện đốt than “xử lý” than. Lợi ích khác của nhà máy EFW là tạo ra sản phẩm phụ có giá trị ngoài việc giảm được thể tích của khối chất thải, tuy rằng đây không phải là mục tiêu chính của nhà máy EFW.
Đáng tiếc là trong những năm gần đây, hầu hết các quy định pháp lý đưa ra sai lầm và giáo điều, cho rằng các nhà máy này là một nhà máy xử lý chứ không phải để sản xuất năng lượng và cố gắng giải quyết vấn đề nhà máy EFW như là một lò đốt chứ không phải là một nhà máy điện. Cách tiếp cận này rất khác nhau ở các vùng khác nhau ở châu Âu, nơi mà công việc tái chế và nhà máy EFW được sử dụng đồng thời để tối đa hóa tiềm năng của chúng. Kết quả là việc chôn lấp được giảm thiểu thành công.
Có 4 quá trình chính được áp dụng trong các nhà máy EFW :
1. Đốt: là quá trình nhiệt phổ biến nhất, sử dụng nhiều dạng nhiên liệu.
2. Khí hóa: trong đó ôxy ở dạng khí, dòng khí ôxy tinh khiết đạt tới nhiệt độ cao, cùng với cácbon trong chất thải tạo thành chất khí, tro thải hoặc xỉ và nhựa đường. Lợi ích chính của quá trình khí hóa chất thải sinh học là sản phẩm khí có thể sử dụng trực tiếp sau khi làm sạch đáng kể, làm nhiên liệu cho máy phát điện chạy bằng tuabin.
3. Nhiệt phân: là một quy trình xử lý nhiệt, bao gồm phân hủy nhiệt đối với chất thải hữu cơ trong điều khiện thiếu ôxy để tạo ra sản phẩm là than cácbônát, dầu và khí đốt. Mặc dù quá trình nhiệt phân là công nghệ cũ nhưng áp dụng đối với vật liệu là sinh khối và chất thải lại mới được triển khai gần đây.
4. Phân hủy kị khí: là quy trình xử lý sinh học, trong đó sử dụng phổ biến nhất là bùn lỏng và bùn sệt như chất thải động vật. Quy trình này cũng được sử dụng để thu khí từ nước cống. Ưu điểm của quy trình là xử lý hiệu quả chất thải ướt, vốn là vấn đề đối với tất cả các dạng quy trình khác.
Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6 triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, 60% số này được chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt.
Theo số liệu thống kê chính thức, tài nguyên này không được sử dụng làm nhiên liệu ở các nhà máy EFW.
Rất khó có thể đạt được các cam kết ràng buộc pháp lý đối với năng lượng tái tạo ở Anh, trừ phi các nhà máy EFW được xây dựng và được xem là giải pháp an toàn với mục tiêu thu hồi năng lượng sạch
Nguồn:INFOTERRA VN